Đi tìm phúc lợi của thiên nhiên

28/10/2019

Trong thời đại mà thuốc bảo vệ thực vật trở thành thứ công cụ lao động không thể thiếu của người nông dân, còn kè bê tông là phương án duy nhất xuất hiện trong mọi trường hợp sạt lở, vẫn có những cá nhân tin vào sức mạnh của tự nhiên, cho rằng tự nhiên có thể làm được điều gì đó lớn lao hơn chức năng làm giá thể cho sự sống của con người.

Cỏ giữ đất

Khu vườn nơi chúng tôi đang đứng có nhiều điều đặc biệt. Không, tuyệt đối không dùng một giọt thuốc trừ sâu hay một hạt phân bón hóa học nào suốt 11 năm qua. Dọc đường đi vào vườn là những trảng sài đất, cỏ lạc nở hoa vàng rực rỡ. Trên các luống rau, mùng tơi, chân vịt, muống cạn,… mọc chen với cỏ. Và khắp trong không gian, bướm, sâu, châu chấu,… cùng muôn loài côn trùng không rõ tên liên tục vận động. Nếu một người nông dân “kiểu mẫu” của thời hiện đại đứng đây, hẳn họ sẽ kêu lên: “Vườn gì mà tốt như rừng thế này, cả năm không chăm bón hay sao?”.

Thực tế là người chủ khu vườn – chị Nguyễn Thị Phương Liên – đã mất hơn một thập kỷ chỉ để chăm sóc cho nó “tốt như rừng”.

Trong nông nghiệp hiện đại, cỏ dại gắn liền với những định kiến tiêu cực: hút hết chất dinh dưỡng của cây, làm cây không lớn được và thậm chí còn có thể gây ra dịch bệnh. Bởi thế, khi gõ từ khóa “cỏ dại” trên công cụ tìm kiếm Google, kết quả trả về hầu hết là cách diệt và phòng trừ cỏ. Tại trang cung cấp tri thức mở Wikipedia, “cỏ dại” còn được định nghĩa là "một loài thực vật ở sai vị trí".

Nhưng loài thực vật sai vị trí ấy lại có vẻ khá thoải mái tìm chỗ đứng giữa khu vườn rộng 2,2 héc-ta bên bãi bồi sông Hồng này. Những người nông dân ở Trang trại hữu cơ Tuệ Viên (Cự Khối, Long Biên, Hà Nội) chỉ nhổ bớt cỏ khi nó phát triển quá mạnh, nhằm duy trì một trạng thái cân bằng cho vườn cây chứ chưa bao giờ phải dốc sức diệt cỏ dại. Và kể cả khi bị nhổ đi, những ngọn cỏ dại vẫn luôn có ích khi được đem ủ hoai làm phân bón cho cây. Chị Phương – người hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thăm vườn, nhoẻn miệng cười: “Cỏ không ăn hết dinh dưỡng của cây đâu”.

Với những người làm nông nghiệp hữu cơ, cỏ mang nhiều giá trị với đời sống sinh vật. Trước hết, nó tạo thành một lớp bao bọc đất đai, giữ nước không bị bay hơi nhanh chóng sau mưa. Thứ hai, sự có mặt của cỏ góp phần tạo nên sự đa dạng trong thảm thực vật của khu vườn. Với cỏ lạc, bộ rễ chùm của nó còn là môi trường để vi sinh vật phát triển mạnh mẽ. Đó là lý do khi cầm trên tay một nắm đất của Tuệ Viên, bạn sẽ thấy khắp nơi là những lỗ nhỏ li ti. Chúng do các loài sinh vật sống trong đất tạo ra. Đó chính là những “công nhân không đòi trả lương” cần mẫn làm cho đất tơi xốp cả ngày lẫn đêm.

Nhưng hơn 10 năm trước đây, ít ai biết rằng Tuệ Viên mang một gương mặt khác hoàn toàn. Là đất ven sông Hồng nhưng chẳng hề màu mỡ bởi người chủ trước đã khai thác đến cạn kiệt lớp đất mặt để đóng gạch. Năm 2008 – thời điểm chị Liên thuê lại mảnh đất này – khắp nơi trong vườn là lớp đất sét cứng đanh, khô khốc. Thứ đất này, cỏ còn khó mọc nữa là rau ăn. Bởi vậy, việc cần làm đầu tiên là phải cải tạo đất.

Làm nông nghiệp hữu cơ không đơn giản chỉ là chuyện gieo hạt mầm xuống và tuyệt giao với mọi loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học. Chị Liên cùng cộng sự đã mất 4 năm miệt mài mang từng xe bã dược liệu về bón cho vườn tược. Rồi trồng cây, rồi ủ phân xanh,… tạo môi trường cho các loài sinh vật phát triển trở lại. Có sinh vật thì mới có mỡ màu. Sinh vật chính là mỡ màu của đất. Và đương nhiên, 4 năm đó là 4 năm không lợi nhuận, không nguồn thu. Chị vẫn phải duy trì công việc ở công ty cũ bên cạnh việc săn sóc khu vườn rộng.

PV: Thưa bà, bà có thể nói rõ hơn về vai trò của nông nghiệp hữu cơ (NNHC) đối với phục hồi và bảo vệ sinh thái được không?

TS. Nguyễn Thị Ngọc Dinh - Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (TS. Dinh): Những lợi ích lớn nhất của NNHC đó là: 1. Không lệ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch; 2. Dựa vào những nguồn lợi sẵn có của địa phương mà giảm thiểu sức ép nông nghiệp sinh thái và hiệu quả chi phí.

NNHC giảm các tác động tới môi trường, giúp cân bằng sinh thái; không phá rừng, không bón phân hóa học, không sử dụng thuốc diệt cỏ vì thế có thể phủ xanh đất trống đồi trọc, giúp giảm xói mòn, chống biến đổi khí hậu… Sản phẩm NNHC có giá trị dinh dưỡng cao. Vì thế chỉ cần ăn một lượng nhỏ đã đủ cung cấp cho con người, ví dụ ăn 1 bát cơm gạo hữu cơ đã thấy no, trong khi đó ăn 2-3 bát cơm gạo canh tác thông thường mới no.

PV: Ở phạm vi rộng hơn là quốc gia và toàn cầu, bà có nghĩ rằng việc duy trì một nền NNHC sẽ tạo những áp lực rất lớn lên việc đảm bảo an ninh lương thực cũng như ổn định kinh tế?

TS. Dinh: Những lợi ích về NNHC mang lại rất lớn đối với hệ sinh thái, con người, nhưng nếu xét trên khía cạnh đảm bảo an ninh lương thực và ổn định nền kinh tế trên góc độ chuyên gia thì chúng ta chỉ nên phát triển NNHC với số lượng nhất định, có quy hoạch. Diện tích sản xuất NNHC chiếm khoảng 10% diện tích đất nông nghiệp là hợp lý. Vì cây trồng hữu cơ có giá trị kinh tế cao, nên tập trung phát triển những cây trồng đặc sản, cây trồng bản địa (vì có khả năng thích ứng với từng vùng khí hậu, ít sâu bệnh), cây trồng có giá trị kinh tế cao để phục vụ việc xuất khẩu trong và ngoài nước là chủ yếu. Khách hàng của NNHC thường là những người có thu nhập khá trở lên vì NNHC thì năng suất thường thấp hơn so với NN thông thường, vì thế giá thành thường cao hơn ít nhất là 1.5 -2 lần. Ở Nhật Bản hiện nay chính phủ quy định sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chỉ được cao hơn 1,5 lần so với sản phẩm thông thường.

Hiện nay, Việt Nam có 58.018 ha đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ, chiếm 0.5% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (theo số liệu của FiBL and IFOAM, 2019). Vì thế, còn rất nhiều cơ hội để tăng diện tích sản xuất hữu cơ ở Việt Nam trong tương lai.

“Ban đầu, tôi sang Israel để học về nông nghiệp công nghệ cao. Dự án đã được xin vốn hết rồi. Thế nhưng trong quá trình học, tôi phát hiện ra thầy dạy mình tuy là chuyên gia về công nghệ cao nhưng gia đình thầy vẫn duy trì một vườn rau hữu cơ qua nhiều thế hệ. Tôi liền xin chuyển sang học nông nghiệp hữu cơ” – Chị Liên nhớ lại.

Nhưng đó không phải là một quyết định dễ dàng. Từ bỏ nông nghiệp công nghệ cao nghĩa là gì? Là không có vốn, là phải làm lại từ đầu, là đi một con đường mù mờ và không rõ lối. Nhưng tính chị đã quyết điều gì thì phải cố gắng làm bằng được. Bỏ vị trí lãnh đạo cấp cao tại một tập đoàn xây dựng, bỏ công trường, bỏ cả những chuyến đi trong Nam ngoài Bắc, chị về vườn theo đúng nghĩa đen.

11 năm trôi qua, từ mảnh đất cằn cỗi và bạc màu, giờ đây khu nông trang hơn 2 héc-ta của chị Liên đã trở thành một thế giới sinh vật đúng nghĩa. “Chúng tôi đi theo hướng phát triển vườn rừng, nghĩa là đa tầng tán và đa dạng các loài sinh vật”. Tất cả nương tựa vào nhau mà sống, bao gồm cả con người.

“Có nhiều cách để chúng tôi chống lại sâu bệnh mà không dùng đến thuốc. Ví dụ như trồng tía tô, hương nhu,… tại đầu mỗi luống, mùi hương của chúng rất mạnh nên có tác dụng như mồi dẫn dụ sâu bệnh tới để chúng không tấn công rau quả nữa. Hay trên một vùng trồng rau, dinh dưỡng sẽ được tập trung cho 1, 2 luống để sâu bệnh chỉ tấn công ở đó, hạn chế lan sang các luống khác. Hoặc tiến hành trồng xen canh, khiến các loài thiên địch khi tấn công sẽ dễ bị xác định nhầm nguồn thức ăn hoặc không thể tấn công ồ ạt, giúp cho lượng cây bị sâu bệnh hại giảm đi đáng kể. Và trên tất cả, đất khỏe cây cũng sẽ khỏe hơn nhiều” – chị Phương, người cộng sự thân thiết của chị Liên vừa đi vừa giảng giải cho chúng tôi nghe cách họ sản xuất nông nghiệp mà không dùng đến thuốc bảo vệ thực vật.

Và thực ra, những chai, những gói thuốc bảo vệ thực vật ấy có “bảo vệ” được cỏ cây không? Không. Chúng diệt nhiều hơn nuôi. Những sinh vật có lợi cho đất và cây dần biến mất. Nguồn dinh dưỡng tự nhiên không còn, cây cỏ đành lệ thuộc triền miên vào nguồn cung nhân tạo như con nghiện cần thuốc để sống. “Trước đây, cây cối sẽ phải phát triển rất mạnh bộ rễ để có thể cắm sâu qua những tầng đất hút chất dinh dưỡng. Quá trình đó vừa giúp cây khỏe mạnh thêm, chống chịu được gió bão hay sâu bệnh, vừa giúp phát triển hệ vi sinh trong đất. Nhưng nay, cây thụ động chờ “thức ăn” vì có con người bón cho thường xuyên. Chúng không phát triển bộ rễ theo chiều sâu nữa mà chỉ phát triển theo chiều ngang. Bởi vậy sức chống chịu thiên tai không còn được như xưa, cây cũng mất dần khả năng giữ đất và nước. Các tầng đất dưới thì vắng bóng vi sinh vật, chúng dần keo cứng lại và kiệt quệ về dinh dưỡng. Đất bạc màu từ đó mà lan rộng ra”.

Lời giải thích cặn kẽ và đẩy đủ ấy như rút ra từ một cuốn sách chuyên khảo khoa học. Nhưng ở đây lại xuất phát từ một cựu doanh nhân có cả tuổi trẻ gắn bó trên những công trường xây dựng. Bằng con mắt hệ thống, chị Liên xác nhận mối liên quan chặt chẽ giữa sinh thái với tất cả

những vấn đề nóng bỏng của đời sống, bao gồm sinh kế bền vững, xóa đói giảm nghèo, biến đổi khí hậu,…

Trồng một khu vườn rừng, ở đó có chỗ cho cỏ mọc, ong bay hay giun đất phát triển không chỉ có ý nghĩa về an toàn sức khỏe với con người, mà còn đóng góp vào những mục tiêu xa hơn như giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học.

“Nông nghiệp truyền thống, cùng với sự phá rừng và đốt nương rẫy đã đóng góp 30% lượng thải CO2 và 90% NO2 vào không khí. Thế giới chuyển sang nông nghiệp hữu cơ vừa có thể giải quyết được nạn đói, vừa ngăn chặn được sự biến đổi khí hậu” – Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc kết luận trong một báo cáo vào năm 2007. Thế giới từng đặt tên cho làn sóng cơ giới hóa nông nghiệp là “cách mạng xanh”. Nhưng giờ là lúc để nhìn nhận lại rằng, chúng không xanh một chút nào!

Cỏ giữ làng

Vũ Mỹ Hạnh, 32 tuổi, nhà Hà Nội, từng tốt nghiệp loại Giỏi ĐH Ngoại thương. Bấy nhiêu gạch đầu dòng như thế đã khiến người ta dễ nghĩ đến một tấm gương thành đạt kiểu doanh nhân, diễn giả, cán bộ cấp cao,… Và trên thực tế, Hạnh cũng từng là một tấm gương kiểu vậy. Cô tham gia giảng dạy tại một số trường đại học hay làm việc tại các tổ chức phi chính phủ với mức thu nhập ổn định. Chính mẹ cô – một cựu quân nhân phải thừa nhận rằng: “Nuôi con Hạnh rất nhàn, cứ vậy mà học, mà đi làm. Bố mẹ không phải lo gì cả”.

Nhưng bà chỉ “không phải lo gì” đến năm 2014. Sau một chuyến đi dài, cô con gái cưng của bà trở về nhà và bảo với người anh trai: “Anh giờ đã ổn định rồi, anh chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già giúp em. Em đi làm ăn xa”. Nói xong, Hạnh xách ba lô và lên đường.

Cô gái Hà Nội chọn Triêm Tây (Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi dừng chân và lập nên Trang trại An Nhiên. Nhưng nếu hiểu về lịch sử Triêm Tây, bạn sẽ biết lựa chọn “đi làm ăn” ở nơi này chẳng khác nào “đâm đầu vào lửa”, còn “an nhiên” là một giấc mơ xa. Triêm Tây của những năm tháng trước đây là mảnh đất của sạt lở, lũ dữ và hoang tàn. 2/3 đất đai của làng đã chìm xuống lòng sông trong suốt 10 năm đầu của thế kỷ XXI. Sau đó, nhờ một vị kiến trúc sư tự bỏ tiền ra xây kè chống lũ, ngôi làng mới giữ lại được. Và Hạnh là người kế tiếp. Cô đến đây trong một trăn trở: “Ngay từ thuở sơ khai, con người đã tìm đến những bãi bồi để sinh cơ lập nghiệp. Triêm Tây cũng là một bãi bồi như thế, chứng tỏ nó vốn rất an toàn. Nhưng đến một thời điểm, con người phải đối mặt với vận động của dòng nước lớn hơn mức mà họ có khả năng chống chọi, họ không biết làm gì và nhiều người đã phải ra đi”. Vậy có cách nào không để đưa những người dân ấy trở về nơi đã từng là máu thịt?

Cô cùng những người cộng sự bắt tay vào cuộc thử nghiệm xây dựng kè sông. Nói là cuộc thử nghiệm bởi thiên nhiên đa dạng không bao giờ hồi đáp cho con người một đáp án duy nhất. “Tôi không biết mình sẽ làm gì, nhưng nghĩ rằng mình có thể thử. Thử bằng cách tuân thủ những nguyên tắc của tự nhiên: nương tựa vào tự nhiên, quan sát và học cách thích nghi với 

những gì thiên nhiên phản hồi lại”.

Và vì ngay từ đầu đã xác định tôn chỉ “nương tựa vào tự nhiên”, những bờ kè cứng với hàng ngàn khối đá, thép, xi măng sừng sững nặng nề chưa bao giờ là lựa chọn của Hạnh. Hạnh muốn tạo nên một bờ kè bằng thảm thực vật bản địa 100%.

Cấu trúc của kè gồm 3 lớp. Lớp ngoài cùng là sậy và bần chua – những loài cây vốn có tập tính mọc ở ven bờ, rễ dài và khỏe. Lớp giữa là những mạng lưới đều nhau tăm tắm được đan kết bởi thân tre già. Phía trên trồng cỏ búa. Cuối cùng, phi lao là loài cây được chọn để tạo thành một hàng rào vững chãi trên đất liền.

Tháng 3/2017, dự án hoàn thành. Nhưng thách thức đã đến liền ngay sau đó bằng trận lụt lịch sử vào tháng 11/2017. Mực nước tới ngực một người trưởng thành và chỉ kém đỉnh lụt những năm 1964, 1999, 2007 một, hai chục phân. Hàng bần phía ngoài bị trôi lấp trong bùn. Cỏ búa xác xơ. Bờ kè với những mầm cây còn non nớt tưởng như không còn lại gì.

“Nhưng đất đã giữ lại được” – Giọng Hạnh trầm lại như muốn bày tỏ sự trang trọng trước niềm vui ấy. Đất ở lại, chứng tỏ cỏ cây có thể giữ được làng. Đất ở lại, nghĩa là đã đi đúng hướng. Đến bây giờ, khách đến thăm An Nhiên vẫn có thể dễ dàng nhận ra một cụm đất nhỏ nằm nhô ra hẳn phía trước bờ kè, trên um tùm cỏ sậy. Cụm đất nhỏ ấy là một trong những minh chứng cụ thể rằng: thiên nhiên có cách để thích ứng với thiên nhiên.


Vậy tại sao có rất nhiều công trình kè bằng bê tông cốt thép tưởng chừng kiên cố lại thất bại trong quá trình giữ đất, giữ làng? (Triêm Tây cũng từng sử dụng kè cứng nhưng không thể giữ được). Thứ nhất, kè cứng giống như một tấm khiên vững chắn phản lại sự tấn công của nước lũ. Khi dòng nước bị chặn lại, chúng không tan ra mà có xu hướng ngày càng

đào sâu xuống phía dưới. Đến một lúc nào đó, nó sẽ khoét đủ sâu để làm lung lay phần móng kè, từ đó dẫn đến đổ sụp cả hệ thống. Với thảm thực vật thì lại khác. Sự dẻo dai, linh hoạt chứ không kết thành khối đặc như bê tông giúp các loài cây “đón” lũ một cách thông minh. Sức mạnh của dòng nước xiết sẽ bị chia nhỏ và tan rã dần thay vì tăng lên theo cấp số nhân như khi va đập với bê tông. Nguyên lý ngày cũng được kiểm chứng ở một bãi biển cách đó không xa – biển Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam). “Cứ đoạn nào xây kè cứng thì chắc chắn sẽ sập, thậm chí hỏng luôn cả bãi biển đó. Vậy nên chúng tôi vẫn luôn tìm cách xây dựng các bờ kè sinh thái để thích ứng với tình trạng sạt lở” – ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hội An cho hay.

Thứ hai, kè cứng hoàn toàn không có khả năng tự tái sinh, trong khi những loài cây được chọn lựa làm kè sinh thái luôn có sức sống vô cùng mạnh mẽ. Hay nói cách khác, thiên nhiên luôn có cách hồi sinh chính bản thân mình.

“Nhờ các công trình kè sinh thái mà người dân đã an tâm sinh sống ở đây. Có những gia đình đã đi rồi nhưng thấy ổn định, họ lại trở về. Đặc biệt là Triêm Tây đang trở thành một điểm đến hút khách du lịch, thu hút cả khách từ Hội An sang” – ông Võ Đang Sự, Trưởng thôn Triêm Tây chia sẻ với phóng viên.

PV: Thưa ông, giải pháp kè sinh thái những năm gần đây được đánh giá là khá hiệu quả, ông có thể giải thích rõ hơn về mô hình này được không?

GS. Thiều Quang Tuấn - Khoa Kỹ thuật biển, Đại học Thuỷ lợi: Bờ kè sinh thái là một dạng đặc biệt của giải pháp công trình, tạm gọi là công trình dựa vào tự nhiên, công trình thuận với tự nhiên. Bản chất của giải pháp này là mô phỏng lại quá trình tái tạo của tự nhiên, mượn sức của tự nhiên để giảm thiểu hoạt động xói lở. Kè sinh thái được hiểu là việc sử dụng quần thể cây cỏ đa dạng, tương tự như trong tự nhiên để tạo ra vành đai bảo vệ. Hiệu quả chống sạt lở bờ của kè sinh thái có thể được hiểu qua hai hiệu ứng: thứ nhất là sức cản của cây cỏ làm suy giảm vận tốc dòng chảy, thứ hai là khả năng gia cường chống cắt, chống sạt lở của rễ cây ở trong đất.

PV: Theo ông, những ưu điểm của kè sinh thái so với kè bê tông là gì?

GS. Tuấn: Kè sinh thái có những ưu điểm rất nổi trội so với kè bê tông. Đây là giải pháp mềm, tức là giải pháp ít tác động nhất đến môi trường, nó không gây ra phản ứng phụ nhiều. Thông thường, giải pháp công trình cứng, tức là kè bê tông có nhiều tác động phụ: chúng ta có thể áp dụng để bảo vệ đoạn bờ này, nhưng có thể gây ra xói lở ở đoạn bờ khác, tức là nó sẽ chuyển vấn đề từ vị trí này sang vị trí khác, và nó không giải quyết vấn đề một cách triệt để. Kè sinh thái thì nó không gây ra tác động phụ nhiều như kè cứng. Giải pháp kè sinh thái có tính bền vững cao, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu. Nó rất thân thiện môi trường, và giá thành đầu tư ban đầu thấp. Phải nói là nó rẻ hơn rất nhiều so với kè bê tông. Chi phí ban đầu rất rẻ, nhưng mà có nhiều chi phí phát sinh sau này, chúng ta phải theo dõi thường xuyên và bảo trì rất nhiều. Tôi nghĩ hiệu quả lớn nhất của kè sinh thái mang lại chính là về mặt môi trường. Thứ hai là trong nhiều khu vực, kè sinh thái mang lại hiệu quả kinh tế, và thúc đẩy các hoạt động du lịch, phù hợp cảnh quan.

Lại nói về chuyện gia đình, thấy con gái cứ khăng khăng đòi sống khổ sở nơi đất khách quê người, bố Hạnh thương con quá rồi chuyển sang giận. Suốt mấy năm, Hạnh mời bố vào chơi nhưng không được. Mãi đến năm ngoái, ông mới nguôi ngoai để vào. Chứng kiến bờ kè đã thành hình và phát triển tốt, thấy những ngôi nhà gỗ xinh xắn mọc lên dưới tán tre,

ông nói: “Nó đã đi từ bụi rậm ra đường cái rồi”.

Còn mẹ cô, sau những tháng năm hoang mang không biết con gái mình đang làm gì, giờ đây đã yên lòng phần nào. Bà kể năm ngoái có một ông giáo sư đến đây, sau khi đi thăm khắp vườn đã vào tận bếp để nói với bà: “Bà nên tự hào về con gái của mình”.

Là người học về kinh tế, Hạnh giữ một tư duy khác biệt rằng môi trường và thiên nhiên không phải hai thái cực đối nghịch. “Các bạn làm môi trường thường có một thái độ tương đối tiêu cực khi nói về kinh tế, nhưng một trong những bài học kinh tế đầu tiên được dạy trong trường đại học là giới hạn của nguồn lực. Hiểu được điều đó thì sẽ thấy mọi thứ không hề đối nhau” – Hạnh nói.


“Chắc vì tôi ngốc quá, nên cây táo mới ra quả” – người nông dân Nhật Bản Kimura đã nói như vậy khi được hỏi về bí quyết làm ra thứ táo ngon nhất xứ sở mặt trời mọc này. Còn nhà báo Takuji Ishikawa – tác giả cuốn sách “Quả táo thần kỳ của Kimura” đã kết luận thế này: “Trong tự nhiên, không có sâu hại, cũng không có thiên địch. Ngược lại, đến cả ranh giới giữa sinh vật và vật vô tri vô giác cũng mơ hồ. Đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rồi gió. Sinh mệnh vạn vật đều liên quan đến nhau, tạo thành tự nhiên. Phải giao tiếp với toàn thể tự nhiên đó, Kimura nghĩ thế. Tự nhiên dệt nên một tấm vải gọi là hệ sinh thái, làm cho sinh mệnh của những cây táo hòa hợp với tấm vải dệt đó là công việc của bản thân ông”.

Chị Liên, chị Hạnh cũng phù hợp với một kết luận như vậy. Xuyên suốt những câu chuyện kể là hành trình họ giao tiếp với tự nhiên, học tự nhiên cách nương tựa vào nhau mà sống. Như chị Hạnh nói: “Sau mỗi mùa lũ, những thứ còn lại trở thành đầu vào cho một chu trình mới để mình tiếp tục quan sát và thích ứng với tự nhiên”. Còn với chị Liên, quá trình cải tạo đất và nuôi dưỡng sinh thái chưa bao giờ dừng lại. Vẫn với mảnh vườn ấy thôi, nhưng mỗi ngày gieo trồng là một ngày khám phá những điều kỳ diệu mới. Thiên nhiên còn biết bao thứ phúc lợi diệu kỳ mà con người vẫn chưa chịu tận hưởng hết.

Đợt này, chị Liên không ở Tuệ Viên thường xuyên. Chị bắt tay vào làm một khu vườn mới ở Hưng Yên. Tuệ Viên rồi sau này sẽ trở thành một vườn nghiên cứu – nơi những mô hình nông nghiệp hữu cơ được đưa vào thử nghiệm và kiểm chứng.

Sau Triêm Tây, chị Hạnh sẽ phối hợp với UBND thành phố Hội An tiếp tục xây dựng kè sinh thái ở xã Cẩm Kim. Theo kế hoạch, nơi ấy sẽ có Bảo tàng Tre, có vườn cây trái,… Nói chung là nơi những đàn chim có thể trở về.

Tôi bất giác nhớ đến lời nhắn nhủ của Mansanobu Fukuoka, người khai sinh nông nghiệp tự nhiên của Nhật Bản và thế giới: “Chữa lành đất đai là chữa lành tâm hồn con người” (Cuộc cách mạng một cọng rơm).

Các tin khác